Hiểu biết thấu cảm và thái độ phi điều hướng

Kiến Minh Nguyễn Ngọc Quang
Hình ảnh bởi Ron Lach

Trị liệu thân chủ trọng tâm, hay trị liệu nhân vị trọng tâm cổ điển mà ban đầu được biết đến như là tham vấn phi điều hướng, được phát triển bởi Carl Rogers vào những năm 1940 và 1950 (Rogers, 1942, 1951, 1959). Nó dựa trên một triết lý về con người nhìn nhận các cá nhân có giá trị và phẩm giá nội tại, thừa nhận quyền tự quyết của họ, và tin rằng họ sở hữu những khuynh hướng và khả năng sẵn có cho sự tăng trưởng cá nhân (Rogers, 1951, 1959). Từ nền tảng triết lý này đã hình thành nên thái độ phi điều hướng ở các nhà trị liệu thân chủ trọng tâm đối với thân chủ của họ (Grant, 1990; Freire, 2012; Levitt, 2005; Raskin, 1947/2005; Rogers, 1951; Stephen, 2024).

Thái độ phi điều hướng có thể được định nghĩa như là “một thái độ được nắm giữ bởi nhà trị liệu mà trong đó họ tin tưởng và liên hệ với thân chủ của họ như một con người có sự chủ động, tự chủ, và khả năng tăng trưởng trong khi tương tác với những trải nghiệm độc nhất của họ trong thế giới” (Stephen, 2024, tr. 177). Nói cách khác, thái độ phi điều hướng là sự tôn trọng và tin tưởng quyền và khả năng tự định hướng của các cá nhân. Đồng thời, với thái độ phi điều hướng, nhà trị liệu tránh xa một cách tự nhiên và có chủ ý khỏi mọi ý đồ hoặc hành vi có thể làm tổn hại sự tự chủ của thân chủ hoặc thể hiện một sự thiếu tin tưởng vào khả năng của thân chủ. Nhà trị liệu “không cố ý quản lý, hướng dẫn, thực hiện, điều kiện, hoặc kiểm soát thân chủ” (Brodley, 1997, tr. 25).

Các nhà trị liệu thân chủ trọng tâm cho rằng thái độ phi điều hướng là ngầm ẩn trong những điều kiện cốt lõi (tức là sự chân thật, nhìn nhận tích cực vô điều kiện, và hiểu biết thấu cảm của nhà trị liệu), ảnh hưởng và hướng dẫn những trải nghiệm chủ quan và hành vi của nhà trị liệu trong khi thực hành những điều kiện này. Thiếu đi thái độ phi điều hướng, việc thực hành những điều kiện cốt lõi này, bao gồm hiểu biết thấu cảm, có thể bị biến dạng (ví dụ, Brodley, 2005; Levitt, 2005). Điều này có thể được làm rõ khi phân tích ảnh hưởng của việc có hay không có thái độ phi điều hướng đối với việc thực hành hiểu biết thấu cảm như là một hoạt động có tính hướng đích theo khung làm việc của Grant (2005).

Trong khung làm việc của Grant (2005) về hiểu biết thấu cảm, nhà trị liệu có động lực để hiểu được những khía cạnh nhất định trong sự truyền đạt hoặc trải nghiệm của thân chủ nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Với khung làm việc này, việc phân tích sự hiểu biết thấu cảm bao gồm việc xác định động lực, ý định, đối tượng, hành vi bên trong và bên ngoài, và hệ quả của nỗ lực hiểu biết thấu cảm.

Thứ nhất, về động lực và ý định, với thái độ phi điều hướng, việc nhà trị liệu cố gắng hiểu biết được thân chủ khi thân chủ biểu lộ điều gì đó về bản thân hoặc tình cảnh của họ là một phản hồi có tính tôn trọng đối với nhu cầu và mong muốn được hiểu của thân chủ (Brodley, 1997; Grant, 2005). Do đó, mục tiêu của những nỗ lực này chỉ thuần tuý là bản thân sự hiểu biết thân chủ. Như Schmid (2001) đã nói, “Nỗ lực hiểu biết không bao giờ được sử dụng ‘để nhằm’ làm gì đó” (tr. 53). Hơn thế nữa, Rogers (1951) cho rằng bằng việc cho phép những tiến trình và kết quả trị liệu hoàn toàn dựa trên trải nghiệm được hiểu biết và chấp nhận của thân chủ, nhà trị liệu biểu lộ một sự tự tin vào khả năng của thân chủ trong việc tạo ra những thay đổi mang tính xây dựng.

Ngược lại, khi không dựa trên một thái độ phi điều hướng, nỗ lực của nhà trị liệu trong việc hiểu biết thân chủ có thể chỉ đơn giản là để phục vụ những mục tiêu mà nhà trị liệu đã đặt ra cho thân chủ. Chẳng hạn, những nỗ lực để hiểu biết thân chủ có thể được sử dụng để “tăng cường cảm giác an toàn và sự tin tưởng vào bản thân ở thân chủ,” “thiết lập một liên minh trị liệu tốt,” hoặc “tạo thuận lợi cho tiến trình trải nghiệm của thân chủ” (Bohart & Greenberg, 1997, tr. 8-9). Hơn thế nữa, việc thiếu một thái độ phi điều hướng có thể cho phép nhà trị liệu một cách chủ ý hoặc không chủ ý lợi dụng sự hiểu biết của mình về thân chủ để phục vụ những mục đích cá nhân. Chẳng hạn, nhà trị liệu có thể nỗ lực hiểu được thân chủ một cách chính xác để đưa ra được những phản hồi thấu cảm chính xác như một cách vô thức đáp ứng nhu cầu được công nhận về năng lực ở nhà trị liệu. Trong cả hai trường hợp, dù là cho mục đích trị liệu hay cá nhân, nỗ lực của nhà trị liệu trong việc hiểu thân chủ không tập trung vào thân chủ, thân chủ bị đối xử như một dạng đồ vật hay phương tiện công cụ, và do đó khó có thể coi như là biểu hiện của một sự tôn trọng dành cho thân chủ.

Thứ hai, về đối tượng, với thái độ phi điều hướng, nhà trị liệu không cố gắng hiểu được khung tham chiếu bên trong của thân chủ mà là “ý nghĩa chủ định,” tức là bất cứ điều gì thân chủ đang biểu lộ một cách có chủ ý đến nhà trị liệu (Grant, 2005, tr. 254). Nói cách khác, tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ, nhà trị liệu tránh việc nắm bắt những trải nghiệm mà thân chủ không chủ ý tiết lộ. Thực tế, một phân tích đối với 34 phiên tham vấn, với gần 2,000 phản hồi, bởi Rogers trong tương tác của ông với thân chủ, đã tìm thấy gần 90% những phản hồi này có mục đích hiểu biết những gì mà thân chủ có chủ ý biểu đạt (Brodley, 1994).

Tuy nhiên, trớ trêu thay, đây chính là chỗ mà thái độ phi điều hướng khiến việc thực hành hiểu biết thấu cảm trở nên khác so với các định nghĩa chính thức của Rogers về sự thấu cảm (Grant, 2005). Trong các định nghĩa này, sự hiểu biết thấu cảm được mô tả là việc nắm bắt được khung tham chiếu bên trong của thân chủ (ví dụ, Rogers, 1957). Khung tham chiếu bên trong đến lượt nó được định nghĩa là “toàn bộ trải nghiệm mà nhận thức của cá nhân có thể tiếp cận được tại một thời điểm nhất định” (Rogers, 1959, tr. 210). Các định nghĩa này đã được sử dụng để biện minh cho những nỗ lực của nhà trị liệu nhằm hiểu bất kỳ trải nghiệm nào mà theo lý thuyết của nhà trị liệu, có thể tiếp cận được bởi nhận thức của thân chủ, ngay cả khi thân chủ không có chủ ý truyền đạt. Hiện tượng này thường được quan sát thấy trong các mô hình trị liệu mang tính điều hướng. Ví dụ, trong liệu pháp tập trung vào cảm xúc, nhằm mục đích “giúp thân chủ tiến tới những ranh giới không rõ ràng hoặc đang hiện ra trong trải nghiệm của họ” (Elliot, 2012, tr. 114), các nhà trị liệu tập trung vào việc hiểu “cảm xúc đang dần xuất hiện”, “cảm xúc dễ bị tổn thương”, “trải nghiệm quan trọng, đang hiện ra, không rõ ràng”, “trải nghiệm không được nói ra nhưng có thể đang được trải nghiệm trong hiện tại” và “trải nghiệm bị tránh né, giảm thiểu, bỏ qua hoặc lạc hướng” của thân chủ (Elliot và cộng sự, 2023a, tr. 103).

Việc cố gắng diễn giải và làm nổi bật một trải nghiệm mà thân chủ không cố ý truyền đạt có thể vi phạm quyền tự chủ và quyền riêng tư của họ. Chẳng hạn, trong một phiên tham vấn, khi đề cập đến cảm giác cô đơn cùng cực trong hiện tại và viễn cảnh phải đối mặt với sự cô đơn suốt phần đời còn lại, thân chủ đã trực trào nước mắt nhưng cố gắng kìm nén lại. Tuy nhiên, nhà trị liệu lại phản hồi rằng: “Tôi thấy như cô đang sắp trào nước mắt,” với ý định khiến thân chủ khóc để giải tỏa cảm xúc. Rõ ràng, nhà trị liệu đã không nhận ra và tôn trọng mong muốn giữ lại những cảm xúc này cũng như sự không sẵn sàng chia sẻ thêm từ phía thân chủ. Trong bối cảnh đó, phản hồi của nhà trị liệu có thể bị coi là xâm phạm và thiếu tôn trọng quyền quyết định tiết lộ hoặc giữ lại thông tin của thân chủ.

Thứ ba, về các hành vi bên trong, với thái độ phi điều hướng, nhà trị liệu có xu hướng “suy nghĩ, tưởng tượng, cảm nhận, tập trung sự chú ý, tạo ra hình ảnh, tạm thời đình chỉ phán xét, gạt sang một bên các quan điểm cá nhân, giám sát suy nghĩ, và các hoạt động tương tự” (Grant, 2005, tr. 250) nhằm hiểu ý nghĩa của các biểu đạt bằng lời và phi ngôn ngữ của thân chủ.

Họ tạm thời hình thành các giả thuyết về ý nghĩa mà thân chủ đang cố gắng truyền tải và có thể ngầm kiểm tra các giả thuyết này bằng cách đối chiếu chúng với các đoạn biểu đạt tiếp theo của thân chủ (Grant, 2005). Ngoài ra, họ có thể trải nghiệm “một sự mong muốn sống động được thấu hiểu những gì thân chủ đang hướng đến trong câu chuyện của họ” và “một mong muốn được gần gũi, cảm nhận, cũng như phản hồi với sự công nhận các sắc thái và hành vi biểu đạt khác của thân chủ, những thứ truyền tải ý nghĩa và cảm xúc cụ thể” (Brodley, 1997, tr. 21).

Ngược lại, nếu không có thái độ phi điều hướng, bên cạnh các quá trình liên quan đến việc hiểu biết sự biểu đạt của thân chủ, nhà trị liệu cũng có thể trải qua các tiến trình bên trong khác. Những quá trình này có thể bao gồm việc theo dõi, đánh giá và quyết định những khía cạnh nào trong trải nghiệm của thân chủ cần được ưu tiên thay đổi (ví dụ, Elliot và cộng sự, 2023a). Khung lý thuyết của nhà trị liệu về các quá trình trị liệu hiệu quả thường biện minh cho những tiến trình bên trong này (ví dụ, Rice, 2001). Tuy nhiên, những tiến trình này hoàn toàn trái ngược với mô tả của Rogers về một nhà trị liệu cố gắng hiểu biết thân chủ một cách thấu cảm:

Nhà trị liệu phải gác lại sự bận tâm về chẩn đoán và sự nhạy bén trong chẩn đoán của mình, phải từ bỏ xu hướng đưa ra những đánh giá chuyên môn, phải ngừng nỗ lực xây dựng tiên lượng chính xác, và phải khước từ sự cám dỗ ngầm dẫn dắt thân chủ… Tham vấn thân chủ trọng tâm… không phải là một cách dẫn dắt vi tế trong khi giả vờ để thân chủ tự dẫn dắt bản thân họ. (Rogers, 1951, tr. 30).

Từ góc độ này, rõ ràng là các tiến trình đánh giá và ra quyết định bên trong của nhà trị liệu không phù hợp với thái độ tôn trọng và tin tưởng vào thân chủ như một cá nhân tự chủ với khả năng phát triển sẵn có.

Thứ tư, về các hành vi bên ngoài, với một thái độ phi điều hướng, nhà trị liệu sẽ đi theo sự dẫn dắt của thân chủ và đưa ra các phản hồi do dự để kiểm tra sự hiểu biết của họ về ý nghĩa mà thân chủ muốn truyền đạt (Brodley, 1990, 1994; Grant, 2005; Rogers, 1986). Những hành vi quan sát được này thể hiện sự tôn trọng đối với thân chủ như là người có thẩm quyền về trải nghiệm của chính họ, với quyền quyết định xem liệu nhà trị liệu có hiểu đúng hay không. Mô hình tương tác giữa thân chủ và nhà trị liệu này thường được gọi là “phản ánh các cảm nhận” (Rogers, 1986) hoặc “tiến trình hiểu biết thấu cảm” (Temaner, 1977/2011).

Ngược lại, nếu không có thái độ phi điều hướng, nhà trị liệu có thể sử dụng phản hồi của mình để tạo ra những tác động nhất định lên thân chủ thay vì chỉ để kiểm tra sự hiểu biết của mình (Brodley, 1990; Grant, 2005). Do đó, trong khi có vẻ như họ đang kiểm tra sự hiểu biết do dự của mình, họ lại ngầm dẫn dắt thân chủ đến những mục tiêu mà họ đã quyết định.

Cuối cùng, về hệ quả của nỗ lực hiểu biết thấu cảm, với một thái độ phi điều hướng, nhà trị liệu không kỳ vọng sẽ có tác động cụ thể nào đến thân chủ. Tuy nhiên, thân chủ có thể cảm thấy được thấu hiểu, tiến triển trong việc biểu lộ bản thân và có cái nhìn sâu sắc hơn về trải nghiệm hiện tại của mình (Brodley, 1990; Elliot và cộng sự, 2023a). Những hệ quả này có thể là những mục tiêu mà những mô hình mang tính điều hướng chủ ý nhắm đến khi thực hiện nỗ lực hiểu biết thấu cảm.

Tóm lại, thái độ phi điều hướng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thực hành hiểu biết thấu cảm. Hiểu biết thấu cảm phi điều hướng nhất quán với và thể hiện sự tôn trọng, tin tưởng của nhà trị liệu đối với thân chủ. Ngược lại, nếu thiếu thái độ phi điều hướng, mục đích và hành vi của nhà trị liệu có thể không chỉ mâu thuẫn với triết lý tôn trọng và tin tưởng thân chủ mà còn có nguy cơ vi phạm một số tiêu chuẩn đạo đức, chẳng hạn như bảo vệ sự bảo mật, quyền riêng tư của thân chủ và không lợi dụng hoặc lạm dụng thân chủ.

Tài liệu tham khảo:

Bohart, A. C., & Greenberg, L. S. (1997). Empathy and psychotherapy: An introductory overview. In A. C. Bohart & L. S. Greenberg (Eds.), Empathy reconsidered (pp. 3–32). American Psychological Association.

Brodley, B. T. (1990). Client-centered and experiential: Two different therapies. In G. Lietaer, J. Rombauts, & R. Van Balen (Eds.), Client-centered and experiential psychotherapy in the nineties (pp. 87–107). Leuven University Press.

Brodley, B. T. (1994). Some observations of Carl Rogers’ behavior in therapy interviews. Person-Centered Journal, 1(2), 37–47.

Brodley, B. T. (1997). The nondirective attitude in client-centered therapy. The Person-Centered Journal, 4(1), 18–30.

Brodley, B. T. (2005). About the non-directive attitude. In B. Levitt (Ed.), Reassessing person-centered theory and practice in the 21st century (pp. 1–4). PCCS Books.

Elliott, R. (2012). Emotion-focused therapy. In P. Sanders (Ed.), The tribes of the person-centred nation (2nd ed., pp. 103–130). PCCS Books.

Elliott, R., Bohart, A. C., Larson, D. G., Muntigl, P., & Smoliak, O. (2023). Empathic reflection. In C. E. Hill & J. C. Norcross (Eds.), Psychotherapy skills and methods that work (pp. 99–137). Oxford University Press.

Freire, E. (2012). Introduction to special issue on nondirectivity. Person-Centered & Experiential Psychotherapies, 11(3), 171–172.

Grant, B. (1990). Principled and instrumental nondirectiveness in person-centered and client-centered therapy. Person-Centered Review, 5(1), 77–88.

Grant, B. (2005). Taking only what is given: Self-determination and empathy in non-directive client-centered therapy. In B. Levitt (Ed.), Reassessing person-centered theory and practice in the 21st century (pp. 248–260). PCCS Books.

Levitt, B. (2005). Non-directivity: The foundational attitude. In B. Levitt (Ed.), Reassessing person-centered theory and practice in the 21st century (pp. 5–16). PCCS Books.

Rice, L. N. (2001). The evocative function of the therapist. In S. Haugh & T. Merry (Eds.), Rogers’s therapeutic conditions: Evolution, theory, and practice. Vol. 2: Empathy (pp. 112–130). PCCS Books.

Raskin, N. J. (1947/2005). The nondirective attitude. In B. Levitt (Ed.), Reassessing person-centered theory and practice in the 21st century (pp. 329–347). PCCS Books.

Rogers, C. R. (1942). Counseling and psychotherapy: Newer concepts in practice. Houghton Mifflin.

Rogers, C. R. (1951). Client-centered therapy: Its current practice, implications, and theory. Houghton Mifflin.

Rogers, C. R. (1957). The necessary and sufficient conditions of therapeutic personality change. Journal of Consulting Psychology, 21(2), 95–103.

Rogers, C. R. (1959). A theory of therapy, personality, and interpersonal relationships, as developed in the client-centered framework. In S. Koch (Ed.), Psychology: A study of a science. Volume 3: Formulations of the person and the social context (pp. 184–256). McGraw-Hill.

Rogers, C. R. (1986). Reflection of feelings. Person-Centered Review, 1(4), 375–377.

Schmid, P. F. (2001). Comprehension: The art of not-knowing. Dialogical and ethical perspectives on empathy as dialogue in personal and person-centered relationships. In S. Haugh & T. Merry (Eds.), Rogers’s therapeutic conditions: Evolution, theory, and practice. Vol. 2: Empathy (pp. 53–71). PCCS Books.

Stephen, S. (2024). The non-directive attitude. In G. D. Malta, M. Cooper, M. O’Hara, Y. Gololob, & S. Stephen (Eds.), The Handbook of Person-Centred Psychotherapy and Counselling (3rd ed., pp. 174–186). Bloomsbury.

Temaner, B. (1977/2011). The empathic understanding response process. In K. A. Moon, M. Witty, B. Grant, & B. Rice (Eds.), Practicing client-centered therapy: Selected writings of Barbara Temaner Brodley (pp. 173–179). PCCS Books.

Leave a Reply