Trị liệu nhân vị trọng tâm: Một thực hành minh sát

Trong Phật Giáo Nguyên Thuỷ, thực hành minh sát (vipassana) là con đường đưa tới giác ngộ sự thật về khổ đau, về nguyên nhân của khổ đau, và sự chấm dứt khổ đau (hay là sự giải thoát). Sự giác ngộ và giải thoát này có thể mang tính triệt để, tức là chấm dứt hết mọi nguyên nhân sâu xa của khổ đau (tham lam, sân hận, si mê), nhưng cũng có thể là trải nghiệm đối với một nỗi khổ đau cụ thể nào đó trong đời của một cá nhân.

So sánh việc thực hành minh sát và trải nghiệm của một thân chủ trong trị liệu nhân vị trọng tâm, có thể nói rằng thân chủ trong trị liệu này cũng trải qua một quá trình tương tự như thực hành minh sát. Sự tương đồng về “phương pháp” này góp phần giải thích vì sao tiến trình giác ngộ, được thực hiện bởi minh sát, và tiến trình thay đổi nhân cách mang tính trị liệu, được tạo thuận lợi bởi trị liệu nhân vị trọng tâm, lại có nhiều điểm tương đồng. Nó cũng có thể giúp giải thích cho những khoảnh khắc mà ở đó cả thân chủ và nhà trị liệu đột nhiên cảm thấy một sự hiện diện sâu sắc của bản thân trong mối quan hệ trợ giúp (Rogers, 1986). Sau đây là một sư so sánh giữa thực hành minh sát và trị liệu nhân vị trọng tâm để làm rõ những sự tương đồng này.

Thực hành minh sát bao gồm ba yếu tố chính là tinh tấn, chánh niệm, và tỉnh giác (Viên Minh, 2007). Trong trị liệu nhân vị trọng tâm, hai yếu tố đầu nơi thân chủ có thể được tạo điều kiện thuận lợi bởi nỗ lực hiểu biết thấu cảm của nhà trị liệu, trong khi yếu tố thứ ba được trợ lực bởi sự nhìn nhận tích cực vô điều kiện của nhà trị liệu đối với thân chủ.

Tinh tấn chánh niệm và hiểu biết thấu cảm

“Chánh niệm là không bỏ quên thực tại thân tâm, không vong thân tha hóa, hay nói một cách dễ hiểu là không quên mình” (Viên Minh, 2007). Nói cách khác, một người thực hành chánh niệm là chú tâm để thấy biết những trải nghiệm đang diễn ra nơi mình. Bên cạnh đó, tinh tấn là “không giãi đãi, không buông xuôi, không hời hợt, lơi lỏng trong việc chú tâm quan sát đối tượng” (Viên Minh, 2007). Nói cách khác, tinh tấn là khi người thực hành minh sát có được sự liên tục duy trì sự thấy biết đối với các trải nghiệm nơi mình.

Tương ứng với hai yếu tố này, trong trị liệu nhân vị trọng tâm, chính vì nỗ lực hiểu biết thấu cảm (empathic understanding), hay là nỗ lực để nắm bắt được khung tham chiếu bên trong (internal frame of reference) của thân chủ–bao gồm những trải nghiệm ngay tại đây và bây giờ mà thân chủ có tiềm năng nhận thức được (Rogers, 1959)–mà nhà trị liệu có thể, một cách không chủ ý, liên tục hướng sự chú tâm của thân chủ đến những trải nghiệm đang diễn ra nơi họ (Brodley, 1990).

Nỗ lực này thường được thực hiện rõ ràng nhất thông qua “tiến trình phản hồi thấu cảm” (empathic understanding response process; Brodley, 1998; Temaner, 1977), trong đó nhà trị liệu lắng nghe, cố gắng nắm bắt được trải nghiệm của thân chủ, và sau đó hỏi xin sự xác nhận hay điều chỉnh từ thân chủ để đạt được sự hiểu biết chính xác nhất có thể. Trong quá trình tương tác này, thân chủ trong khi cố gắng xác định xem liệu nhà trị liệu đã hiểu đúng những trải nghiệm của mình chưa, có được cơ hội quay trở về nhìn lại một cách sâu sắc dòng trải nghiệm của bản thân (Rogers, 1975). Đó là lúc tinh tấn và chánh niệm hiện diện nơi thân chủ.

Tỉnh giác và sự nhìn nhận tích cực vô điều kiện

Cuối cùng, “tỉnh giác là thấy biết trong sáng, không bị che mờ bởi những ý niệm, tư tưởng, kiến thức, quan niệm, thành kiến hay tình cảm chủ quan nào.” (Viên Minh, 2007). Nói cách khác, tỉnh giác là thấy biết trải nghiệm như chính nó là. Trong trị liệu nhân vị trọng tâm, sự nhìn nhận tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard), hay là sự chấp nhận một cách vô điều kiện đối với mọi trải nghiệm nơi thân chủ (Rogers, 1959) chính là cơ sở tạo thuận lợi cho tỉnh giác xuất hiện nơi thân chủ.

Trong lý thuyết nhân vị trọng tâm về những đau khổ tinh thần, điều cản trở khả năng thấy biết của một cá nhân đối các trải nghiệm của mình chính, thậm chí khiến họ phải chối bỏ hoặc bóp méo các trải nghiệm, hay hoảng loạn lo sợ thấy biết các trải nghiệm, là “những ý niệm, tư tưởng, kiến thức, quan niệm, thành kiến, hay tình cảm chủ quan” thể hiện ra dưới dạng thức của những đánh giá, phán xét từ bên trong hay từ bên ngoài (Rogers, 1959).

Bằng sự chấp nhận vô điều kiện đối với mọi trải nghiệm nơi thân chủ, nhà trị liệu nhân vị trọng tâm giải phóng thân chủ ra khỏi nỗi sợ của sự đánh giá bên ngoài đồng thời, có lẽ, cung cấp một chỗ dựa ban đầu để thân chủ từng bước mạo hiểm thấy biết và chấp nhận chính mình hay những trải nghiệm có thực nơi mình. Đó là những khoảnh khắc mà thân chủ thấy bản thân không thể nào chịu nổi hay chấp nhận nổi chính mình nhưng lại không thể tìm thấy bằng chứng nào cho thấy là nhà trị liệu đang phủ nhận họ (Rogers, 19961). Qua thời gian, sự thấy biết ngày càng nhiều những trải nghiệm và chấp nhận chúng như chính chúng là, là cơ sở để trải nghiệm hiển bày cho thân chủ về bản chất của nỗi đau khổ mà họ đang trải nghiệm, và đó là lúc trí tuệ phát sinh.

Điểm khác biệt giữa thực hành minh sát và trải nghiệm trị liệu nhân vị trọng tâm đó là sự xuất hiện của một người khác. Trong thực hành minh sát, các cá nhân tự mình điều chỉnh để phát triển các yếu tố tinh tấn, chánh niệm, và tỉnh giác. Người nhìn nhận và chấp nhận những trải nghiệm của cá nhân là chính cá nhân. Trong khi đó, với trị liệu nhân vị trọng tâm, sự phát triển này được tạo thuận lợi bởi một người khác trước hết. Người nhìn nhận và chấp nhận những trải nghiệm của cá nhân là nhà trị liệu và đồng thời là chính bản thân thân chủ. Chính điều này tự nó đặt ra đòi hỏi về một sự giao tiếp, nỗ lực hiểu biết, và chấp nhận giữa nhà trị liệu và thân chủ, để những trải nghiệm được đem ra một cách chân thật và được chấp nhận vô điều kiện vượt lên trên mọi ý niệm.

Kiến Minh

Brodley, B. T. (1990). Client-centered and experiential: Two different therapies. In G. Lietaer, J. Rombauts, & R. Van Balen (Eds.), Client-centered and experiential psychotherapies in the nineties (pp. 87–108). Leuven University Press.

Brodley, B. T. (1998). Criteria for making empathic responses in client-centered therapy. The Person-Centered Journal, 5(1), 20–28.

Rogers, C. R. (1959). A theory of therapy, personality, and interpersonal relationships: As developed in the client-centered framework. In S. Koch (Ed.), Psychology: A study of a science. Formulations of the person and the social context (Vol. 3, pp. 184–256). McGraw-Hill.

Rogers, C. R. (1961). On becoming a person: A therapist’s view of psychotherapy. Houghton Mifflin.

Rogers, C. R. (1975). Empathic: An unappreciated way of being. The Counseling Psychologist, 5(2), 2–10.

Rogers, C. R. (1986). Client-centered therapy. In I. L. Kutash & A. Wolf (Eds.), Psychotherapist’s casebook: Theory and technique in the practice of modern times (pp. 197–208). Jossey-Bass.

Temaner, B. (1977). The empathic understanding response process. Revision of paper presented to changes on March 6. Chicago Counseling and Psychotherapy Center. Chicago Counseling Center Discussion Paper.

Viên Minh. (2007). Thiền phật giáo: Nguyên thuỷ và phát triển. Nhà xuất bản Tôn giáo.

Leave a Reply