Barbara Temaner Brodley, Ph.D
Illinois School of Professional Psychology, Chicago
Đinh Thị Hồng Nhung & Kiến Minh Nguyễn Ngọc Quang dịch
Vietnam Rogerian Group
Liệu pháp thân chủ trọng tâm là trị liệu dựa trên các thái độ. Không giống như những liệu pháp khác, trọng tâm của nó là việc thể hiện những thái độ trị liệu bao gồm hợp nhất, nhìn nhận tích cực vô điều kiện, và hiểu biết thấu cảm (Rogers, 1957, 1959), thay vì chẩn đoán các rối loạn và sau đó áp dụng các phương thức điều trị. Hành vi của nhà trị liệu thân chủ trọng tâm xuất phát từ triết lý về con người và từ thái độ trị liệu trong mối quan hệ với thân chủ. Nó không phải là áp dụng các kỹ thuật.
Mặc dù vậy, đối với những người mới bắt đầu thực hành, học hỏi tiếp cận này thông qua việc hành xử như một nhà trị liệu thân chủ trọng tâm trước khi những triết lý và những thái độ trị liệu được hiểu rõ và được thâu nhận đủ để có thể hướng dẫn việc thực hành là một hướng có thể đem lại nhiều lợi ích. Những hướng dẫn đề cập đến những gì nên làm và những gì không nên làm có thể hữu ích trong việc giúp học viên bước vào một mối quan hệ và trải nghiệm cũng như quan sát những hành động và phản ứng của cả nhà trị liệu và thân chủ. Những trải nghiệm như vậy có thể giúp học viên hiểu được triết lý thân chủ trọng tâm về con người, về thái độ trị liệu và về những lợi ích đối với thân chủ theo một cách cá nhân và mang tính trải nghiệm.
Tuy nhiên điều này có thể gây hiểu lầm rằng cần phải áp dụng các kỹ thuật để hành xử như là một nhà trị liệu thân chủ trọng tâm trước khi được dẫn dắt bởi những thái độ trị liệu. Do đó, những hướng dẫn này, như ở dưới đây, đối mặt với nguy cơ gây ra hiểu lầm về thực hành thân chủ trọng tâm.
Những hướng dẫn này chỉ là một cách thức giới thiệu để trải nghiệm mối quan hệ thân chủ trọng tâm. Nghiên cứu và chiêm nghiệm về triết lý thân chủ trọng tâm về con người và những thái độ trị liệu là điều thiết yếu để phát triển cung cách thực hành thân chủ trọng tâm thực sự. Điều này cần phải được ghi nhớ khi sử dụng những hướng dẫn này bởi vì chúng có thể gây hiểu nhầm rằng thân chủ trọng tâm là việc áp dụng các kỹ thuật.
Những hướng dẫn này có thể có ích và không gây hiểu lầm chỉ khi chúng được sử dụng trong khi bạn đang học về triết lý, các giá trị và các thái độ trị liệu – những điều là trọng tâm của thực hành thân chủ trọng tâm.
Tình huống căn bản mà những hướng dẫn này hướng đến là tình huống trong đó một người nói (thân chủ) đang giải thích và bộc lộ những mối bận tâm, những vấn đề hay triệu chứng cá nhân mà anh ấy hay cố ấy đang trải nghiệm cho người nghe (nhà trị liệu). Người nghe (nhà trị liệu) trong tình huống ấy tham dự cùng người nói (thân chủ) và cố gắng để hiểu được người nói từ khung tham chiếu bên trong của người nói. Sự chủ ý này, cố gắng hiểu được người nói từ quan điểm của người nói, được gọi là “hiểu biết thấu cảm” trong thực hành thân chủ trọng tâm.
Hiểu biết thấu cảm về cơ bản là một trải nghiệm chủ quan bên trong người nghe (nhà trị liệu). Nó là một sự hiểu biết mang tính chủ quan và không chắc chắn về những suy nghĩ và cảm nhận đang được bộc lộ bởi người nói. Hiểu biết thấu cảm chỉ có thể là hiểu biết không chắc chắn chừng nào nó chưa được xác nhận bởi người nói.
Người nghe không chắc chắn (nhà trị liệu) tiếp nhận những truyền tải và những bộc lộ cá nhân của thân chủ, và tại điểm nào đó, đi đến việc có cảm nhận hiểu biết thân chủ. Dần dần, sau đó, người nghe cần nói ra những hiểu biết mà anh ấy hay cô ấy đã cảm thấy để người nói cho biết rằng những hiểu biết ấy là chính xác hay không chính xác. Người nói là người duy nhất có thể đánh giá về những điều mà anh ấy hay cô ấy muốn nói hay có ý định muốn bộc lộ và truyền tải.
Việc nói ra những hiểu biết được cảm nhận cùng với những cử chỉ và ngữ điệu của người lắng nghe thường được gọi là “phản hồi cảm nhận” hay “phản hồi hiểu biết thấu cảm” trong thực hành thân chủ trọng tâm. Chúng thường được bộc lộ dưới dạng những câu khẳng định. Mặc dù thường ở dạng câu khẳng định, chúng thường hàm ý là một câu hỏi đối với người nghe. Chúng thường ngầm hỏi người nghe rằng “Liệu đây có phải là những điều mà bạn đang nói với tôi”, hay “Liệu tôi đã hiểu đúng bạn chưa?”
Phản hồi thấu cảm trong thực hành thân chủ trọng tâm gần như luôn luôn được bộc lộ với một chủ ý duy nhất là kiểm tra và xác nhận tính chính xác của sự hiểu biết thấu cảm của người nghe (Rogers, 1986). Chúng thường được đưa ra bởi nhà trị liệu để thân chủ có cơ hội xác nhận, loại bỏ hoặc điều chỉnh chúng.
Những hướng dẫn
Khi lắng nghe câu chuyện của thân chủ, hãy thử làm những điều sau đây:
Tiếp thu ý nghĩa của những điều thân chủ đang bộc lộ cho bạn thấy. Tự nhắc mình tập trung toàn bộ sự chú ý vào thân chủ và vào những gì thân chủ đang nói. Điều mà thân chủ vừa “truyền tải”, hay đang cố để “truyền tải” là gì?
Khi bạn thể hiện sự thấu hiểu của mình một cách không chắc chắn, hãy nghĩ nó như việc bạn đang thử kiểm tra xem liệu mình đã hiểu đúng hay chưa. Thái độ không chắc chắn này có thể được biểu hiện thông qua ngữ điệu, hoặc thông qua những từ ngữ bạn dùng để bắt đầu lời phản hồi của mình, để biểu đạt sự cẩn trọng của bạn và sự quan tâm tới sự đánh giá của thân chủ về mức độ chính xác trong cách hiểu của bạn. Ví dụ như mở đầu bằng “Không biết liệu tôi đã hiểu đúng hay chưa…”, “Có phải ý bạn là…?” hoặc “Điều tôi hiểu liệu đã chính xác hay chưa….” hay “Tôi nghĩ mình hiểu được điều bạn đang chia sẻ, có phải điều bạn muốn nói là…?” Chúng ta cũng có thể sử dụng những câu khẳng định khi đưa ra lời phản hồi thấu cảm của mình, dù vẫn giữ một tinh thần không chắc chắn hay cẩn trọng, như là “Ngay lúc này bạn đang cảm thấy….” hay “Điều bạn muốn là…” hay “Bạn đang muốn nói rằng…”
Tránh việc mở đầu câu phản hồi thấu cảm bằng cách tỏ ý rằng bạn đang cố diễn giải ý của thân chủ hay đang cố tìm ra ẩn ý “đằng sau” của những gì thân chủ đang thể hiện. Những câu nói dễ gây hiểu nhầm như vậy thường là “Tôi cảm nhận anh/chị đang cảm thấy…”, hay “Điều anh/chị đang nói giống như là…”
Trong những phản hồi mà bạn có ý định thể hiện góc nhìn của thân chủ, khung tham chiếu bên trong của thân chủ, quan điểm, cảm nhận và những phản ứng khác với mọi thứ xung quanh, hãy đặt mình hoàn toàn trong khung tham chiếu của thân chủ. Trong lúc lắng nghe, hãy cố nắm bắt góc nhìn hay quan điểm của thân chủ với những ý nghĩa và cảm nhận mà thân chủ đang truyển tải tại đúng thời điểm đó. Hãy tiếp nhận tất cả những điều đó để đạt tới cảm giác thấu hiểu, mà không gặp phải những giới hạn hay sự gián đoạn do hoài nghi hay phán xét. Hãy đặt những ngờ vực hay chỉ trích về lời nói của thân chủ sang một bên và cố gắng để hiểu được cách nhìn và những cảm nhận của thân chủ.
Nếu bạn không hiểu được điều thân chủ đang truyền đạt (có thể là bởi những suy nghĩ phân tán của chính bạn hay cũng có thể là do cách giao tiếp lảng tránh/vòng vo của thân chủ ngay tại thời điểm đó), thì hãy đơn giản thừa nhận rằng bạn chưa hiểu được ý của thân chủ, và đề nghị thân chủ nhắc lại hoặc diễn đạt theo một cách khác.
Cho phép thân chủ đưa ra lời phản hồi tiếp theo sau lời phản hồi thấu cảm của bạn. Cho phép sự im lặng được diễn ra. Hãy thả lỏng và cho phép chính bạn và cả thân chủ của bạn có cơ hội để suy nghĩ và cảm nhận nhiều hơn để ngẫm lại về những trải nghiệm đang diễn ra trong mối quan hệ tham vấn, trị liệu này.
Nếu thân chủ đặt câu hỏi cho bạn: (a) cho bản thân một cơ hội để tiếp thu câu hỏi này, (b) hỏi lại để làm rõ câu hỏi của thân chủ nếu thấy cần thiết, (c) trả lời một cách trực tiếp, thẳng thắn. Sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau cho chỉ dẫn này, tùy thuộc vào bản chất của câu hỏi, kiến thức và năng lực chuyên môn của bạn về các lĩnh vực khác nhau, cảm quan cá nhân của bạn về việc bộc lộ bản thân và thể hiện quan điểm. Trong mọi trường hợp, việc phản hồi trực diện, thẳng thắn có nghĩa là không né tránh câu hỏi hoặc xem thân chủ như là vấn đề khi họ đặt ra câu hỏi. Tùy vào các yếu tố trên mà bạn có thể chỉ cần trả lời đúng câu hỏi, có thể là “tôi cũng không có câu trả lời”, hoặc là “tôi không cảm thấy thoải mái để trả lời câu hỏi này”, hoặc bạn không thoải mái để tiết lộ những vấn đề riêng tư như vậy, hoặc bạn có thể đưa ra một câu trả lời thông thường cho câu hỏi đó nhưng cũng thể hiện sự do dự về việc không biết liệu câu trả lời chung chung này có áp dụng được cho tình huống hiện tại hay không. Sau khi đã phản hồi lại câu hỏi của thân chủ theo một cách nhất định, bạn có thể sẽ muốn xác nhận lại quan điểm của thân chủ hay mức độ hài lòng của họ với câu trả lời của bạn. Bạn cũng có thể trả lời một cách thẳng thắn và thêm vào đó là biểu hiện sự thấu cảm cho cảm xúc, những lo ngại hay cách nhìn nhận từ phía thân chủ đã dẫn tới câu hỏi. Phản hồi cảm xúc đằng sau một câu hỏi cũng không nên đồng nghĩa với việc né tránh câu hỏi.
Ở giai đoạn đầu của quá trình học hỏi thông qua việc thực hành các phiên trò chuyện với thân chủ, có lẽ sẽ dễ dàng hơn đối với bạn khi đề nghị thân chủ hãy để câu hỏi lại cho đến khi kết thúc phiên tham vấn. Điều này có thể sẽ hữu ích vởi bạn bởi vì việc phản hồi lại những câu hỏi trong tiến trình thấu cảm, theo tiếp cận thân chủ trọng tâm, phụ thuộc rất lớn vào những thái độ trị liệu đã được xây dựng một cách vững chắc trong nhân cách của bạn. Và do đó sẽ rất khó, ở giai đoạn đầu, để phản hồi lại những biểu cảm tự khám phá của thân chủ mà đồng thời lại tích hợp nó với việc phản hồi lại các câu trả lời.
Đừng đặt những câu hỏi mang tính dẫn dắt hay thăm dò. Ví dụ điển hình là những câu hỏi như “Bạn cảm thấy thế nào về việc này?”, “Hãy kể cho tôi rõ hơn về…”, “Bạn nghĩ anh ấy/cô ấy sẽ cảm thấy sao về việc này?”, “Bạn có thể cho tôi biết rõ hơn về mối quan hệ của bạn với…?”. Cũng không nên hỏi thân chủ những câu hỏi hàm chứa những sự suy đoán hay những lý thuyết mà không phải là một phần của những gì đang được biểu hiện hoặc đang được ngụ ý một cách rõ ràng trong lời nói của thân chủ. Ví dụ là những câu hỏi thăm dò mang tính diễn giải như “Bạn có thức dậy sớm vào buổi sáng và không thể ngủ lại được?”, “Bạn có nhớ được những gì mình cảm nhận khi em trai của bạn ra đời?”, “Bạn cảm thấy sao khi một người áp đặt quyền lực lên bạn?”.v.v.
Dĩ nhiên là có rất nhiều lời phản hồi thấu cảm được đưa ra dưới dạng câu hỏi khi bạn muốn tìm hiểu xem liệu sự thấu hiểu thấu cảm của mình có chính xác hay không. Và cũng có lúc bạn sẽ thấy mình cần phải đặt ra những câu hỏi chỉ để làm rõ tính xác thực của thông tin. Ví dụ như “Có phải bạn vừa nhắc tới chị gái hay chị họ của bạn?” hay “Bạn vừa nói rằng bạn hay anh ấy về muộn?” hay “Có phải ý của bạn khi nhắc tới ‘hiện tại’ là chỉ ‘những ngày gần đây’ hay là chỉ ‘khoảnh khắc ngay lúc này’ tại đây với tôi?”
Đừng tự ý diễn giải lời nói của thân chủ dưới bất cứ hình thức nào.
Đừng tự ý đưa ra nhận xét về những gì thân chủ thể hiện.
Đừng khái quát hóa câu nói của thân chủ khi đó là một câu nói rất cụ thể và đừng cụ thể hóa nếu đó là một câu nói mang tính chung chung, trừ phi đó là hàm ý mà thân chủ muốn bạn hiểu được.
Đừng tự ý rút ra cảm nhận hay cảm xúc từ nội dung hoặc tình huống mà thân chủ đang diễn tả, trừ phi ý định của thân chủ là thể hiện cảm nhận hay cảm xúc.
Đừng tự ý đưa ra gợi ý hay hướng dẫn dưới bất cứ hình thức nào.
Nếu thân chủ thể hiện cảm giác bị ngưng lại và không biết xử lý tiếp ra sao và yêu cầu sự trợ giúp của bạn, một lời phản hồi tương đối phi điều hướng và thường hữu ích đó là “Đôi khi, nếu cho bản thân một chút thời gian, một vài ý tưởng hay định hướng có thể sẽ xuất hiện”. Hoặc “Tôi cảm thấy không có gì phải vội vàng đâu, vậy nên nếu bạn có thể, hãy cứ thử thả lỏng/thư giãn và xem liệu có điều gì xuất hiện”
Nếu thân chủ của bạn nói rằng anh ấy hay cô ấy không có gì để nói thêm về một chủ đề và không biết làm gì vào này, và bạn đã thử áp dụng cách tiếp cận như trên, và thân chủ yêu cầu sự trợ giúp – bạn hãy đề nghị cô ấy hoặc anh ấy cho bản thân mình thêm thời gian để xem xét liệu còn có chủ đề gì khác mà anh ấy hoặc cô ấy cảm thấy bận tâm hay lo lắng về. Hoặc nói “đôi khi việc nghĩ lại điều gì đã đưa bạn tới đây cũng có thể có ích”. Chúng ta không cố ý né tránh việc đưa ra hướng dẫn hoặc trợ giúp trong quá trình tương giao khi thân chủ yêu cầu nó, nhưng cách hướng dẫn tốt nhất thường là khuyến khích họ dành thêm thời gian và tìm kiếm những trải nghiệm và suy nghĩ của chính bản thân mình.
Trừ phi thân chủ bị trượt khỏi dòng suy nghĩ của cô ấy hay anh ấy hoặc quên mất những gì anh ấy hoặc cô ấy đang suy nghĩ và yêu cầu trợ giúp, đừng gợi ý hoặc nhắc lại cho thân chủ. Những suy nghĩ rải rác và sự đứt đoạn của chủ đề nên được chấp nhận theo cùng một cách như những suy nghĩ đầy đủ và liền mạch.
Không tích hợp thay cho thân chủ (ví dụ: “Nghe có vẻ như nó có liên quan đến vấn đề mà bạn có với mẹ của bạn”). Liệu pháp thân chủ trọng tâm thường đem lại kết quả là sự tích hợp, nhưng việc tìm ra hay điều hướng những sự liên kết đó không phải là trách nhiệm của nhà trị liệu.
Đừng tự ý bình luận về những cảm nhận hiện có của thân chủ, câu hỏi hay những trải nghiệm khác (ví dụ, “Bạn có vẻ như có rất nhiều cảm xúc về vấn đề đó”, hay “Cỏ vẻ như bạn có một nan đề với sự bỏ rơi và mất mát”, hay “Bạn đang cảm thấy khá giận dữ đối với tôi ngay lúc này”). Dĩ nhiên, những ví dụ này có thể là giống và tương đồng như những phản hồi thấu cảm, nếu thân chủ vừa mới bộc lộ những ý tưởng đó. Sự tự vật hoá, hay việc tự coi mình như một đồ vật, là một trong những điều mà thân chủ liên tục thực hiện trong trị liệu, nhưng nhiệm vụ của nhà trị liệu đó là không tạo ra một mối liên hệ như vậy nơi thân chủ đối với anh ấy hoặc cô ấy. Tự coi mình như một vật là một phản ứng thông thường của thân chủ khi nhà trị liệu cố ý bình luận về những trải nghiệm hiện có của thân chủ.
Nói chung, hãy thử hướng bản thân tới thân chủ như là một con người toàn thể, giống như bạn, sống, hành động và phản ứng với một thế giới nằm ở trung tâm những tri giác, động lực và cảm nhận của anh ấy hay cô ấy. Mối quan tâm của nhà trị liệu thân chủ trọng tâm đó là toàn thể cá nhân, không phải là sự phức tạp của vấn đề hay là triệu chứng. Sự toàn thể của thân chủ được biểu hiện bởi chức năng của thân chủ như là một tác thể trong mối quan hệ với nhà trị liệu. Thân chủ lựa chọn bước vào tình huống, tới phiên tham vấn, nói chuyện với nhà trị liệu, và thể hiện con người mình đối với nhà trị liệu. Thân chủ là lý do để cả hai người ở đó và là nguồn lực căn bản của những điều sẽ diễn ra.
Sự tôn trọng và tin tưởng vào thân chủ của nhà trị liệu thân chủ trọng tâm được cảm nhận bởi nhà trị liệu và được truyền đạt tới thân chủ chủ yếu thông qua những biểu lộ quan tâm của nhà trị liệu đối với sự biểu lộ của thân chủ về thế giới nội tâm của anh/cô ấy, góc nhìn và phản ứng bên trong của anh/cô ấy đối với thế giới của anh/cô ấy.
Sự có mặt của nhà trị liệu thân chủ trọng tâm, chịu ảnh hưởng bởi triết lý về con người, bởi những giá trị (Bozarth & Brodley, 1986), và bởi những thái độ trị liệu của anh/cô ấy, và những hành vi nhằm đạt được sự hiểu biết thấu cảm của nhà trị liệu là phương tiện để truyền đạt sự thấu cảm, chấp nhận và hợp nhất trong mối quan hệ trị liệu.
Những hướng dẫn được liệt kê bên trên là những giới hạn có chủ ý và có lý do trong việc tuân thủ một thực tế đó là các thái độ trị liệu thông thường là được truyền đạt thông qua việc kiểm tra những hiểu biết cảm nhận được và sự có mặt của nhà trị liệu.
So với những hướng dẫn này, có nhiều sự tự do hơn đối với nhà trị liệu theo tiếp cận thân chủ trọng tâm. Những phản hồi mang tính ngẫu nghiên từ khung tham chiếu của nhà trị liệu cũng xuất hiện trong thực hành thân chủ trọng tâm (Brodley, 1987). Trong một mẫu nghiên cứu gồm các phiên trị liệu được thực hiện bởi Carl Rogers, chỉ có 9% những phản hồi của ông không phải là phản hồi hiểu biết thấu cảm (Brodley & Brody, 1990; Brody, 1991).
Khi thực hiện chức năng của một nhà trị liệu thân chủ trọng tâm, trong một số cuộc trò chuyện Carl Rogers cũng tạo ra những bình luận ngẫu nghiên, phi cấu trúc, sự đồng tình, diễn giải hay đặt ra những câu hỏi thăm dò. Khi chúng xuất hiện trong những cuộc trò chuyện của Carl Rogers, chúng có thể coi là nhằm để tạo nên một cảm nhận chung về sự có mặt thấu cảm và phi điều hướng của ông trong mối quan hệ với thân chủ. Mặc dù vậy, những thái độ thân chủ trọng tâm được truyền tải thành công đến thân chủ phần lớn bằng cách kết hợp những biểu lộ sự thấu hiểu và sự bỏ qua rất nhiều những kiểu phản hồi khác (những kiểu mà có thể, đặc biệt là khi có cấu trúc, thể hiện thái độ khác biệt và mâu thuẫn với thái độ trị liệu thân chủ trọng tâm).
Khi bạn cố gắng học hỏi tiếp cận thân chủ trọng tâm, khi bạn cảm thấy bị kìm nén hay bị ức chế bởi những chỉ dẫn này, có lẽ sẽ tốt với bạn nếu như nghỉ ngơi một chút và thực hành với một nhà tham vấn, cho phép bạn quyền được “phá bỏ luật lệ” và đưa ra bất cứ phản hồi nào mà bạn cảm thấy muốn đưa ra. Cũng sẽ có ích khi nhắc nhở bạn thân mình rằng, nói chung, trong toàn bộ tiến trình liên tục tương tác với tha nhân – đó là điều mà một người không nghĩ tới, cảm thấy, và thực hiện, cùng với những điều mà một người có nghĩ tới, cảm thấy và thực hiện, là điều sẽ truyền đạt thái độ của chúng ta, ý định của chúng ta, và sự thấu hiểu của chúng ta đối với người khác.
Tài liệu tham khảo
Bozarth, J. D. & Brodley, B. T. (1986). The core values of the person-centered approach. Paper presented at the First Annual Meeting of the Association for the Development of the Person-Centered Approach (ADPCA), at the University of Chicago, International House, in September, 1986.
Brodley, B.T. (1987). A client-centered psychotherapy practice. Paper prepared for the Third International Forum on the Person-Centered Approach, in La Jolla, California, August 7 to 14, 1987.
Brodley, Barbara T. & Brody, Anne, F. (1990). Understanding client-centered therapy through interviews conducted by Carl Rogers. Paper prepared for the panel Fifty Years of Client-Centered Therapy: Recent Research, at the American Psychological Association Convention in Boston, Massachusetts, August, 1990.
Brody, Anne F. (1991). A study of therapeutic interviews conducted by Carl Rogers. Clinical Research Paper prepared for partial fulfillment of the Doctor of Psychology degree at the Illinois School for Professional Psychology, Chicago, Illinois.
Rogers, Carl R. (1957). The necessary and sufficient conditions of therapeutic personality change. Journal of Consulting Psychology, 21, 95-103.
Rogers, Carl R. (1959). A theory of therapy, personality and interpersonal relationships as developed in the client- centered framework. In S. Koch (Ed.), Psychology: A Study of a Science. Vol III. Formulations of the Person in the Social Context. New York: McGraw Hill.
Rogers, Carl R. (1986). Reflections of feelings. Person-Centered Review, 1, 375-377.
Tài liệu gốc
Brodley, B. T. (1991) Instructions for beginning to practice client-centered therapy. Unpublished manuscript.
Hoàn thành: 03/10/2018
Chỉnh sửa: 09/03/2025

Leave a Reply